global auditing

Enhance your values

I.  THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP

 

Nghị định số 114/2020/NĐ-CP v/v quy định chi tiết thi hành Nghị quyết số 116/2020/QH14 của Quốc hội, có hiệu lực kể từ ngày Nghị quyết số 116/2020/QH14 có hiệu lực thi hành và áp dụng cho kỳ tính thuế thu nhập doanh nghiệp năm 2020

 

Ngày 25/9/2020, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 114/2020/NĐ-CP v/v quy định chi tiết thi hành Nghị quyết số 116/2020/QH14 của Quốc hội về giảm 30% thuế TNDN phải nộp năm 2020 đối với doanh nghiệp, HTX, đơn vị sự nghiệp và tổ chức khác.

-  Giảm 30% số thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp của kỳ tính thuế thu nhập doanh nghiệp năm 2020 đối với trường hợp doanh nghiệp có tổng doanh thu năm 2020 không quá 200 tỷ đồng.

-  Trường hợp doanh nghiệp mới thành lập, doanh nghiệp chuyển đổi loại hình doanh nghiệp, chuyển đổi hình thức sở hữu, hợp nhất, sáp nhập, chia, tách, giải thể, phá sản trong kỳ tính thuế thu nhập doanh nghiệp năm 2020 hoạt động không đủ 12 tháng thì tổng doanh thu năm 2020 được xác định bằng tổng doanh thu thực tế trong kỳ tính thuế thu nhập doanh nghiệp năm 2020 chia (:) cho số tháng doanh nghiệp thực tế hoạt động sản xuất, kinh doanh trong kỳ tính thuế thu nhập doanh nghiệp năm 2020 nhân (x) với 12 tháng.

-   Số thuế thu nhập doanh nghiệp được giảm quy định tại Nghị định này được tính trên số thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp của kỳ tính thuế thu nhập doanh nghiệp năm 2020, sau khi đã trừ đi số thuế thu nhập doanh nghiệp mà doanh nghiệp đang được hưởng ưu đãi theo quy định của Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp và các văn bản hướng dẫn thi hành.

-   Doanh nghiệp tự xác định số thuế thu nhập doanh nghiệp được giảm khi tạm nộp hàng quý và khi kê khai thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp trong kỳ tính thuế thu nhập doanh nghiệp năm 2020.

 

Công văn số 3924/TCT-CS ngày 18/9/2020 về ưu đãi thuế TNDN đối với dự án sản xuất sản phẩm công nghiệp hỗ trợ ưu tiên phát triển

 

Công ty TNHH Hspolytech được Ban quản lý các KCN tỉnh Đồng Nai cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư lần đầu số 9845767425 ngày 24/10/2016 để thực hiện dự án sản xuất, gia công các loại giày thể thao, các bộ phận của giày. Ngày 31/12/2019, Công ty được Bộ Công thương cấp Giấy xác nhận ưu đãi số 10133/GXN-BCT cho dự án sản xuất sản phẩm công nghiệp hỗ trợ ưu tiên phát triển đối với sản phẩm Đế giữa cho giày thể thao thì dự án sản xuất sản phẩm công nghiệp hỗ trợ ưu tiên phát triển nêu trên đáp ứng điều kiện được hưởng ưu đãi thuế TNDN theo quy định tại Khoản 5 và Khoản 9 Điều 1 Luật số 71/2014/QH13, Điều 4 Thông tư số 21/2016/TT-BTC.

Theo báo cáo của Công ty thì: Dự án đầu tư của Công ty TNHH Hspolytech thành lập năm 2016. Năm 2017 là năm đầu tiên dự án phát sinh doanh thu. Năm 2018, dự án đầu tư phát sinh thu nhập và hưởng ưu đãi thuế TNDN theo điều kiện địa bàn khu công nghiệp (miễn 2 năm, giảm 50% trong 4 năm tiếp theo). Năm 2019 dự án được cấp Giấy xác nhận ưu đãi sản suất sản phẩm công nghiệp hỗ trợ ưu tiên phát triển thì dự án được lựa chọn chuyển tiếp hưởng ưu đãi thuế TNDN theo điều kiện dự án đầu tư sản xuất sản phẩm công nghiệp hỗ trợ ưu tiên phát triển cho thời gian còn lại kể từ năm 2019.

Trong thời gian hoạt động, Công ty có bổ sung ngành nghề kinh doanh bất động sản (cho thuê nhà xưởng) hoặc sản xuất các sản phẩm khác chưa được Bộ Công Thương xác nhận là sản phẩm công nghiệp hỗ trợ ưu tiên phát triển thì Công ty phải tính riêng thu nhập từ hoạt động kinh doanh được hưởng ưu đãi theo điều kiện công nghiệp hỗ trợ và thu nhập từ hoạt động kinh doanh khác để xác định thuế TNDN phải nộp theo đúng quy định.

 

Công văn số 4342/TCT-CS  ngày 15/10/2020 về ưu đãi thuế TNDN của dự án đầu tư mới của doanh nghiệp thành lập trong khu công nghiệp

 

Trường hợp dự án đầu tư mới của doanh nghiệp thành lập trong khu công nghiệp trên địa bàn có điều kiện kinh tế xã hội khó khăn thì dự án đầu tư mới của doanh nghiệp đáp ứng đồng thời hai điều kiện được hưởng ưu đãi là ưu đãi theo điều kiện địa bàn khu công nghiệp được miễn thuế 2 năm và giảm 50% số thuế phải nộp trong 4 năm tiếp theo và ưu đãi theo địa bàn kinh tế xã hội khó khăn là thuế suất ưu đãi 17% trong thời gian 10 năm, miễn thuế 2 năm và giảm 50% số thuế phải nộp trong 4 năm tiếp theo. Doanh nghiệp được lựa chọn 1 trong 2 mức ưu đãi trên để áp dụng xuyên suốt quá trình ưu đãi.

Trường hợp dự án đầu tư mới của doanh nghiệp chỉ thành lập trong KCN không thuộc địa bàn ưu đãi đầu tư thì được hưởng ưu đãi thuế theo mức áp dụng cho dự án đầu tư tại KCN theo quy định của pháp luật thuế TNDN là miễn thuế 2 năm và giảm 50% số thuế phải nộp trong 4 năm tiếp theo, không được áp dụng thuế suất thuế TNDN ưu đãi 17%.

Về việc xác định ưu đãi thuế TNDN đối với dự án đầu tư mở rộng tại địa bàn khu công nghiệp, Tổng cục Thuế đã có công văn số 292/TCT-DNL ngày 23/01/2017 trả lời Cục Thuế tỉnh Vĩnh Phúc (bản photocopy công văn đính kèm).

 

 

II.  THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG

 

Công văn số 3902/TCT-KK ngày 17/9/2020 về xác định số thuế giá trị gia tăng được hoàn

 

Trường hợp Công ty TNHH Panasonic R&D Center Việt Nam (sau đây gọi là Công ty) được Cục Thuế thành phố Hà Nội thực hiện thủ tục đóng mã số thuế 13 số 0101824243-003 của Công ty để cấp mã số thuế mới 10 số 0108345786 thì đề nghị Cục Thuế thành phố Hà Nội xác định đầy đủ, chính xác nghĩa vụ thuế của Công ty tại thời điểm sử dụng mã số thuế 13 số để chuyển tiếp sang mã số thuế 10 số tiếp tục kê khai, nộp thuế.

Trường hợp sau khi chuyển tiếp toàn bộ nghiã vụ thuế từ mã số thuế 13 số sang mã số thuế 10 số, nếu Công ty TNHH Panasonic R&D Center Việt Nam có số thuế GTGT đầu vào của hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu đủ điều kiện được hoàn thì Cục Thuế TP Hà Nội giải quyết hoàn thuế giá trị gia tăng cho Công ty theo đúng quy định.

 

 

III. THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN

 

Công văn số 4076/TCT-DNNCN ngày 29/9/2020 về chính sách thuế TNCN

 

Trường hợp xác định Công ty TNHH Eusung Electronics Vina và Chi nhánh Công ty tại Đồng Nai đã kê khai sai thuế TNCN của kỳ tính thuế Quý 1, Quý 2 năm 2019 đối với khoản tiền lương Công ty trực tiếp trả cho người lao động tại Chi nhánh thì Công ty và Chi nhánh thực hiện khai bổ sung hồ sơ khai thuế theo quy định tại Khoản 5 Điều 10 Thông tư số 156/2013/TT-BTC.

Sau khi khai bổ sung hồ sơ khai thuế thì:

+   Nếu trong năm 2019 chi nhánh không phát sinh trả thu nhập cho cá nhân thì không phải khai quyết toán thuế thu nhập cá nhân. Số thuế chi nhánh đã nộp ở Đồng Nai được xác định là nộp thừa và Chi nhánh được xử lý số nộp thừa tại Đồng Nai theo quy định tại Điều 33 Thông tư số 156/2013/TT-BTC ngày 06/11/2013 của Bộ Tài chính.

+   Nếu trong năm 2019 Chi nhánh có phát sinh trả thu nhập cho cá nhân thì Chi nhánh phải khai quyết toán thuế TNCN năm 2019, xác định thuế TNCN nộp thừa theo quyết toán thuế và được xử lý số tiền thuế nộp thừa theo quy định tại Điều 33 Thông tư số 156/2013/TT-BTC ngày 06/11/2013 của Bộ Tài chính.

 

 

IV. QUẢN LÝ THUẾ

 

Công văn số 3997/TCT-CS ngày 24/9/2020 về chính sách thuế nhà thầu

 

Tại khoản 5 Điều 2 Thông tư số 103/2014/TT-BTC nêu trên quy định về đối tượng không áp dụng Thông tư bao gồm: “Tổ chức, cá nhân nước ngoài sử dụng KNQ, cảng nội địa (ICD) làm kho hàng hóa để phụ trợ cho hoạt động vận tải quốc tế, quá cảnh chuyển khẩu, lưu trữ hàng hoặc để cho doanh nghiệp khác gia công”.

Căn cứ các quy định trên, về nguyên tắc trường hợp công ty nước ngoài sử dụng kho ngoại quan làm kho hàng hóa để phụ trợ cho hoạt động vận tải quốc tế, quá cảnh chuyển khẩu, lưu trữ hàng hoặc để cho doanh nghiệp khác gia công thì không thuộc đối tượng nộp thuế TNDN tại Việt Nam; Trường hợp công ty nước ngoài giao gia công cho doanh nghiệp trong khu chế xuất để sản xuất hàng hóa, sau đó đưa hàng hóa vào kho ngoại quan để bán cho các khách hàng ở nước ngoài, hàng hóa được chuyển giao quyền sở hữu tại kho ngoại quan trước khi xuất khẩu ra nước ngoài thì công ty nước ngoài thuộc đối tượng nộp thuế TNDN tại Việt Nam.

Đề nghị Công ty TNHH SG Sagawa Việt Nam cung cấp hồ sơ, hợp đồng và các tài liệu liên quan khác cho Cục Thuế tỉnh Đồng Nai để được hướng dẫn thực hiện theo quy định của pháp luật về thuế.

 

Công văn số 4023/TCT-CS ngày 25/9/2020 về việc chuyển đổi hoá đơn điện tử thành chứng từ giấy

 

– Trường hợp chuyển đổi hóa đơn điện tử sang hóa đơn giấy để chứng minh nguồn gốc xuất xứ hàng hóa hữu hình trong quá trình lưu thông và chỉ được chuyển đổi một (01) lần thì hóa đơn điện tử chuyển đổi sang hóa đơn giấy để chứng minh nguồn gốc xuất xứ hàng hóa phải đáp ứng các quy định nêu tại Khoản 2, 3, 4 Điều 12 Thông tư số 32/2011/TT-BTC và phải có chữ ký người đại diện theo pháp luật của người bán, dấu của người bán.

– Trường hợp chuyển đổi hóa đơn điện tử sang hóa đơn giấy để phục vụ việc lưu trữ chứng từ kế toán theo quy định của Luật Kế toán thì hóa đơn điện tử chuyển đổi sang hóa đơn giấy phục vụ lưu trữ phải đáp ứng các quy định nêu tại Khoản 2, 3, 4 Điều 12 Thông tư số 32/2011/TT-BTC.

Theo đó, trường hợp Bệnh viện Nhi Trung ương chuyển đổi hoá đơn điện tử cung ứng dịch vụ khám chữa bệnh sang hoá đơn giấy để phục vụ theo yêu cầu của bệnh nhân, làm chứng từ kế toán phục vụ cho việc đối chiếu, theo dõi kiểm tra giữa người bệnh và cơ quan, đơn vị bảo hiểm thì không nhất thiết phải có dấu người bán và hoá đơn được chuyển đổi sang hoá đơn giấy nêu trên thực hiện theo quy định tại Khoản 3 Điều 17 Luật kế toán số 88/2015/QH13.

 

Công văn số 4073/TCT-CS ngày 28/9/2020 về khoản chi giữ chân người lao động trong thời gian tạm hoãn hợp đồng lao động do ảnh hưởng của dịch Covid-19

 

Tại công văn số 6801/CT-TTHT ngày 10/6/2020 của Cục Thuế thành phố Hồ Chí Minh nêu vướng mắc đối với trường hợp doanh nghiệp do tác động của dịch Covid-19 làm ảnh hưởng đến nguyên vật liệu nhập về không đồng bộ dẫn đến không bố trí đủ việc làm cho người lao động. Vì vậy, để giữ chân người lao động trong thời gian tạm hoãn hợp đồng lao động Công ty chi hỗ trợ cho người lao động là: 2.000.000 đồng/tháng/người thì khoản chi trên được coi là khoản chi có tính chất phúc lợi hay khoản chi tiền lương ngừng việc để được tính vào chi phí được trừ khi tính thuế thu nhập doanh nghiệp?

Để có cơ sở áp dụng chính sách thuế TNDN đối với khoản chi của doanh nghiệp giữ chân người lao động khi tạm hoãn hợp đồng lao động do ảnh hưởng của dịch Covid- 19 cần làm rõ đây là khoản chi có tính chất phúc lợi hay chi tiền lương ngừng việc.

-           Nếu khoản chi nêu trên là khoản chi có tính chất phúc lợi thì được trừ khi tính thuế thu nhập doanh nghiệp nếu đáp ứng đủ các điều kiện quy định tại Điều 4 Thông tư số 96/2015/TT-BTC (Tổng số chi có tính chất phúc lợi không quá 01 tháng lương bình quân thực tế thực hiện trong năm tính thuế của doanh nghiệp).

-           Nếu khoản chi nêu trên là chi tiền lương ngừng việc thì được tính toàn bộ vào chi phí tiền lương, tiền công và được trừ khi tính thu nhập chịu thuế thu nhập doanh nghiệp nếu đáp ứng các điều kiện quy định tại Điều 9 Nghị định số 218/2013/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 91/2014/NĐ-CP ngày 01/10/2014 và Nghị định số 12/2015/NĐ-CP ngày 12/02/2015) .

Để có cơ sở hướng dẫn thực hiện, đề nghị Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội có ý kiến về vấn đề nêu trên.